Mục lục
Tư vấn về cải tạo không giam giữ
Theo Điều luật quy định thì cải tạo không giam giữ là hình phạt chính được áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc nghiêm trọng. Trong các hình phạt, thì hình thức hình phạt này nhẹ hơn hình phạt tù, nhưng nặng hơn hình phạt tiền và cảnh cáo.
Khác với hình phạt tù, hình phạt cải tạo không giam giữ không buộc người bị kết án phải cách ly với xã hội. Do vậy, trong thực tiễn xét xử chỉ áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ trong những trường hợp tội phạm đã thực hiện thuộc loại tội phạm ít nghiêm trọng hoặc là nghiêm trọng và bị cáo là người có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú rõ ràng. Khi áp dụng các hình phạt này, Toà án giao người bị kết án cho cơ quan Nhà nước hoặc tổ chức xã hội nơi người đó làm việc hoặc thường trú để giám sát, giáo dục.
Khoản 3 điều luật qui định: Người bị kết án phải thực hiện một số nghĩa vụ theo các quy định về cải tạo không giam giữ và bị khấu trừ một phần thu nhập từ 5% đến 20% để sung quỹ Nhà nước. Cơ quan, tổ chức được giao trách nhiệm giám sát, giáo dục không được tự đặt thêm những hạn chế về quyền và nghĩa vụ công dân của người bị kết án.
Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ, cần chú ý một số điểm sau đây:
+ Cải tạo không giam giữ là hình phạt chính, cho nên Toà án còn có thể quyết định thêm hình phạt bổ sung mà Bộ luật có quy định đối với tội đó;
+ Việc khấu trừ thu nhập của người bị kết án để sung quỹ Nhà nước không phải là bắt buộc trong mọi trường hợp. Toà án cần căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện, thu nhập thực tế và tình hình tài sản cũng như hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội để quyết định có khấu trừ thu nhập của họ hay không. Nếu có thì mức độ cụ thể là bao nhiêu.
+ Nếu người bị phạt cải tạo không giam giữ là người chưa thành niên thì không khấu trừ thu nhập của người đó;
+ Hình phạt cải tạo không giam giữ áp dụng với cả quân nhân phạm tội hay nói cách khác việc thay thế hình phạt cải tạo ở đơn vị kỷ luật của quân đội bằng hình phạt cải tạo không giam giữ là một sự điều chỉnh hợp lý trên cơ sở tổng kết thực tiễn nhằm tạo điều kiện để người bị kết án được học tập, tu dưỡng và cải tạo tại chính tập thể nơi người phạm tội phục vụ, công tác.
Phân biệt giữa cải tạo không giam giữ và án treo
Ngoài thắc mắc về vấn đề cải tạo không giam giữ là gì thì án treo với việc cải tạo không giam giữ trường hợp nào nặng hơn cũng luôn được nhiều người đặt ra câu hỏi.
Theo quy định của Bộ Luật Hình sự thì có thể phân biệt cải tạo không giam giữ với án treo như sau:
– Cải tạo không giam giữ là một hình phạt chính, mức phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm, áp dụng đối với người phạm tội ít nghiêm trọng, người phạm tội nghiêm trọng và có nơi làm việc ổn định, nơi cư trú rõ ràng.
– Án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, mức phạt tù không quá 03 năm, không kể tội đã phạm là tội gì. Người thực hiện hành vi phạm tội phải là người có nhân thân tốt, có các tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ Luật Hình sự và thuộc trường hợp không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù.
Án treo có quy định về thời gian thử thách là từ 01 năm đến 05 năm, tuy nhiên cá nhân sẽ không được hưởng án treo trong các trường hợp là người phạm tội là người chủ mưu, cầm đầu dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tính chất chuyên nghiệp; người thực hiện hành vi phạm tội bỏ trốn và bị cơ quan tiến hành tố tụng truy nã; người được hưởng án treo nhưng phạm tội mới trong thời gian thử thách,…
Từ những phân tích trên thấy được rằng cải tạo không giam giữ sẽ nặng hơn so với án treo bởi vì đây là một hình phạt chính, còn án treo là một biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện.
Cải tạo không giam giữ có được coi là tiền án hay không?
Tiền án chính là việc một người có hành vi vi phạm pháp luật và sau đó bị xử phạt, kết án, đồng thời những bản án đó chính thức có hiệu lực pháp luật mà người phạm tội cần phải chấp hành hoặc là đã thực hiện chấp hành xong nhưng chưa hết thời gian xóa án tích.
Như vậy việc một người có án tích hay không sẽ được xem xét dựa trên hành vi phạm tội của người đó đã được kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật.
Cải tạo không giam giữ chính là một hình phạt chính theo quy định của bộ luật hình sự tức là người đó đã bị kết án, vì vậy nếu một người bị kết án cải tạo không giam giữ và chưa hết thời gian xóa án tích thì vẫn coi là có án tích.
Cải tạo không giam giữ có được đi làm không?
Theo quy định tại Điều 36 Luật Hình sự quy định về cải tạo không giam giữ không có quy định về việc cấm cá nhân đó tham gia lao động. Vì thế, người bị kết án cải tạo không giam giữ vẫn được đi làm.
Tuy nhiên, tại Khoản 2 Điều 36 Luật Xuất cảnh, nhập cảnh của công dân Việt Nam năm 2019 quy định: “Người được hoãn chấp hành án phạt tù, người được tạm đình chỉ chấp hành án phạt tù, người được tha tù trước thời hạn có điều kiện trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo trong thời gian thử thách, người chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ trong thời gian chấp hành án theo quy định của Luật Thi hành án hình sự”. Như vậy, người bị kết án cải tạo không giam giữ sẽ bị tạm hoãn xuất cảnh (không được ra nước ngoài) trong thời gian chấp hành án.

Tổng đài tư vấn 19006557 tư vấn cải tạo không giam giữ
Luật Hoàng Phi triển khai Tổng đài tư vấn pháp luật miễn phí 19006557 để giúp Quý khách hàng giải đáp nhanh chóng được những thắc mắc như:
– Xác định tội phạm và quy định pháp luật áp dụng?
– Xác định khung hình phạt?
– Điều kiện áp dụng các hình phạt, biện pháp thi hành như cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, án treo,…;
– Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự?
– Loại trừ, miễn giảm trách nhiệm hình sự?
– Cách thức tố giác tội phạm?
– Quy trình tiến hành tố tụng hình sự: điều tra, khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự,…
Trong trường hợp cần tư vấn thêm, Quý vị có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ 19006557 để được tư vấn