huống tích hợp. Không thể giải quyết một vấn đề và nhiệm vụ nào của lí luậnvà thực tiễn mà lại không sử dụng tổng hợp các kiến thức, kinh nghiệm, kĩnăng đa ngành của nhiều lĩnh vực khác nhau. Vì vậy có thể nói rằng, tư tưởngtích hợp bắt nguồn từ cơ sở khoa học và đời sống.Trong lịch sử phát triển khoa học của nhân loại, các lĩnh vực khoa họcngày càng phân hoá thì tính tích hợp lại càng chặt chẽ. Do vậy, sang thế kỷXX đã xuất nhiện nhiều khoa học liên ngành, đa ngành. Các khoa học đãchuyển từ tiếp cận “phân tích – cấu trúc” sang tiếp cận “tổng hợp – hệ thống”.Sự thống nhất của tư duy phân tích và tổng hợp đều cần thiết cho sự phát triểnnhận thức, đem lại cách nhận thức biện chứng về mối quan hệ giữa bộ phậnvới toàn thể. Việc giảng dạy các khoa học trong nhà trường vì thế cũng phảiphản ánh sự phát triển hiện đại của khoa học, không thể cứ tiếp tục giảng dạycác khoa học như những lĩnh vực tri thức riêng rẽ. Bởi thế, tích hợp đã trởthành một trong những xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiêncứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới.Vì điều kiện khó khăn trong việc thu thập và bao quát các tư liệu nướcngoài, chúng tôi chưa thực sự tìm hiểu đầy đủ các công trình nghiên cứu vềtích hợp của các nước trên thế giới. Tuy nhiên, với những tài liệu đã thu thậpđược, chúng tôi mong muốn phần nào có thể nêu lên một số nhận xét tổngquát về tình hình nghiên cứu cũng như một số nội dung tích hợp đã và sẽđược đề cập trong bài.2.1. Dạy học tích hợp ở một số nước trên thế giớiTrên thế giới, tích hợp đã trở thành một trào lưu sư phạm hiện đại bêncạnh các trào lưu sư phạm theo mục tiêu, giải quyết vấn đề, phân hoá, tươngtác… Trào lưu sư phạm tích hợp xuất phát từ quan niệm về quá trình học tập,trong đó toàn thể các quá trình học tập góp phần hình thành ở HS những nănglực rõ ràng. Khái niệm năng lực ở đây được hiểu là một khái niệm tích hợpbao hàm cả những nội dung, những hoạt động cần thực hiện và những tìnhhuống có diễn ra các hoạt động. Theo ý nghĩa đó, năng lực được định nghĩa làsự tích hợp các kĩ năng (các hoạt động) tác động một cách thích hợp và tự12nhiên lên các nội dung trong một loạt tình huống cho trước, để giải quyếtnhững vấn đề do tình huống đó đặt ra. Năng lực này là một hoạt động phứchợp đòi hỏi sự tích hợp, phối hợp các kiến thức và kĩ năng, chứ không phải làsự tác động các kĩ năng riêng rẽ lên một nội sentayho.com.vn sư phạm tích hợp nhấn mạnh dạy học là dạy cách tìm tòi, sáng tạovà cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau. Tức là, dạy cho HSbiết cách sử dụng kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết những tìnhhuống cụ thể, có ý nghĩa nhằm mục đích hình thành, phát triển năng lực.Đồng thời chú ý xác lập mối liên hệ giữa các kiến thức, kĩ năng khác nhau củacác môn học hay các phân môn khác nhau để bảo đảm cho HS khả năng huyđộng có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình vào giải quyết cáctình huống tích hợp.Đã có rất nhiều nhà nghiên cứu, nhiều Hội nghị trên thế giới quan tâmđến lý thuyết về tích hợp như: Tháng 9 -1968, Hội đồng liên quốc gia vềgiảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO đã tổ chức tại Varna(Bungari) “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học”. Hội nghị này đặtra hai vấn đề: “Vì sao phải dạy học tích hợp các khoa học?” và “dạy học tíchhợp các khoa học là gì?”. Đến năm 1972, Hội nghị phối hợp trong chươngtrình giáo dục của UNESCO họp tại Paris đã đưa ra định nghĩa dạy học tíchhợp các khoa học. Ngay sau đó, UNESCO lại tổ chức Hội nghị đào tạo GVvào tháng 4 năm 1973 tại Đại học tổng hợp Maryland bàn thêm về khái niệmdạy học tích hợp các khoa học còn bao gồm cả dạy học tích hợp các khoa họcvới công nghệ học. Nghĩa là phải chỉ ra cách thức chuyển từ nghiên cứu khoahọc sang triển khai ứng dụng, làm cho các tri thức kĩ thuật – công nghệ trởthành một bộ phận quan trọng của đời sống xã hội hiện đại.Cũng theo hướng tích hợp các khoa học với công nghệ, gắn học vớihành, Xavier Roegiers (Phó Giám đốc văn phòng Công nghệ Giáo dục và Đàotạo của Liên minh Châu Âu) cho rằng: giáo dục nhà trường phải chuyển từđơn thuần dạy kiến thức sang phát triển ở HS các năng lực hành động, xem13năng lực (compétence) là khái niệm “cơ sở” của khoa sư phạm tích hợp(pédagogie de l’intégration). Theo Xavier Roegiers, sư phạm tích hợp (SPTH)là một quan niệm về quá trình học tập, trong đó toàn bộ quá trình học tập gópphần hình thành ở HS những năng lực cụ thể có dự tính trước những điều kiệncần thiết cho HS, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập sau này hoặc nhằmhoà nhập HS vào cuộc sống lao động. Như vậy SPTH tìm cách làm cho quátrình học tập có ý nghĩa.Trong cuốn “Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển cácnăng lực ở nhà trường” của Xavier Roegiers do Đào Trọng Quang và NguyễnNgọc Nhị dịch (1996) đã đưa ra cái nhìn tổng quan về dạy học tích hợp.Trong cuốn sách này tác giả đã đưa ra định nghĩa và mục tiêu của khoa sưphạm tích hợp; ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với chương trình;ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với việc đánh giá những kiến thứcHS đã lĩnh hội và ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với việc biênsoạn sách giáo sentayho.com.vn điểm tích hợp còn được thể hiện khá rõ trong nhiều công trìnhnghiên cứu cũng như SGK của một số nước như: Trung Quốc, Pháp,Malaixia, Đức… Tuy nhiên, việc đưa tích hợp vào các môn khoa học tự nhiênvà các môn khoa học xã hội của một số nước là khác nhau. Riêng ở mônTiếng, xu hướng tích hợp từ Tiểu học đến THPT của các nước trên thế giới làtương đối thống nhất. Tích hợp triệt để các mảng nội dung để dạy các kỹ năngnghe, nói, đọc, viết thông qua việc cho HS tiếp xúc với loại văn bản ngay từnhững buổi đầu HS tập đọc, tập viết ở bậc Tiểu học đến sentayho.com.vnư vậy, tích hợp là một hiện tượng khá phổ biến đã xuất hiện từ lâu ởcác nước trên thế giới. Nhưng mỗi nước lại có những cách nhìn nhận và ápdụng riêng tùy thuộc đặc điểm tình hình từng quốc gia, từng môn học màkhông đi lệch khỏi đường ray cốt lõi của nó.142.2. Dạy học tích hợp ở Việt NamVấn đề tích hợp môn học trên thế giới đã có từ rất lâu, nhưng ở ViệtNam mới có manh nha từ thập niên 90 của thế kỷ XX trở lại đây và ngày càngđược chú trọng với những mức độ khác nhau.Ở Việt Nam, Thời Pháp thuộc, quan điểm tích hợp được thể hiện trongmột số môn ở trường Tiểu học như môn “Cách trí”, sau đổi thành môn “Khoahọc thường thức”. Môn học này được dạy một số năm ở trường Tiểu học củamiền Bắc nước ta. Từ những năm 1987, việc nghiên cứu xây dựng môn “Tìmhiểu tự nhiên – xã hội” của Việt Nam theo quan điểm tích hợp đã được thiếtkế đưa vào dạy học từ lớp 1 đến lớp 5. Đến năm 2000, quan điểm tích hợpđược thể hiện trong chương trình, SGK và các hoạt động DH ở Tiểu học. Tuynhiên khái niệm tích hợp vẫn còn mới lạ với nhiều GV.Sang chương trình ở cấp Trung học, tích hợp được thể hiện chủ yếu ởmức thấp, chưa được áp dụng sâu. Một trong những nguyên nhân chính là doviệc dạy học tích hợp liên quan đến nhiều yếu tố đòi hỏi phải có quá trìnhchuẩn bị lâu dài mà chúng ta chưa thực hiện được đầy đủ như: chương trình,sách giáo khoa, tổ chức dạy học, phương pháp dạy và học, đánh giá, kiểm tra,thi… Tuy vậy, ngày càng có nhiều nội dung giáo dục được tích hợp vào mộtsố môn học ở bậc Trung học (như: dân số, môi trường, phòng chốngHIV/AIDS, chống các tệ nạn xã hội, giáo dục pháp luật, an toàn giao thông…)bằng phương thức lồng ghép. Việc dạy học các nội dung này bước đầu đã làmcho GV có một số kinh nghiệm thực tiễn về tích hợp, tạo điều kiện thuận lợicho việc thực hiện dạy học tích hợp trong chương trình và sách giáo khoa mớisau sentayho.com.vnực tiễn trong những thập niên 90 trở lại đây, việc dạy học của chúngta vẫn mang tính “hàn lâm, lý thuyết” nhiều. Đặc điểm cơ bản đó là chú trọngviệc truyền thụ hệ thống tri thức khoa học đã được quy định trong chươngtrình mà chưa chú trọng đầy đủ đến chủ thể người học cũng như đến khả năngứng dụng tri thức đã học trong những tình huống thực tiễn. Mục tiêu dạy học15trong chương trình được đưa ra một cách chung chung, không chi tiết; việcquản lý chất lượng giáo dục chỉ tập trung “điều khiển đầu vào” là nội dungdạy học. Đến nay, việc chuyển đổi SGK ở trường phổ thông theo hướng tíchhợp là một yêu cầu tất yếu đổi mới việc dạy và học Ngữ văn. Chương trìnhTHPT môn Ngữ văn, năm học 2002 do Bộ giáo dục và Đào tạo dự thảo đã ghirõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dungchương trình, biên soạn SGK và lựa chọn các phương pháp giảng dạy” [tr.27]. “Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từĐọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trìnhdạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trongchương trình; tích hợp trong SGK; tích hợp trong phương pháp dạy học củaGV và tích hợp trong hoạt động học tập của HS; tích hợp trong các sách đọcthêm, tham khảo” [tr. 40]. Sau gần mười năm thực hiện chương trình Ngữ vănTHCS mới, bước đầu chúng ta đã thu được những kết quả đáng khích lệ. Vớiviệc lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc để biên soạn chương trình, vấn đềdạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp ngày càng được nghiên cứu sâuvà rộng.Nhưng có một vấn đề đáng bàn là ở nước ta trong nhiều năm qua, tíchhợp được chú ý nhiều tại các hội thảo, hội nghị, song đến nay nó vẫn chưathực sự trở thành nguyên tắc hoặc định hướng chung, nhất quán từ đầu trongviệc xây dựng chương trình, viết sách giáo khoa và định hướng dạy học cácmôn học ở các cấp học phổ thông. Tích hợp mới chỉ là một trong những địnhhướng cơ bản xây dựng chương trình Tiểu học năm 2000.Vì định hướng tích hợp chưa trở thành quan điểm chỉ đạo phát triểnchương trình Giáo dục phổ thông nên việc quán triệt định hướng này trongđào tạo cũng có những hạn chế nhất định. Mặc dù, đội ngũ chuyên gia giáodục và đội ngũ GV đã có nhận thức về tích hợp không tạo môn học mới nhưtích hợp một số mặt giáo dục trong dạy học môn học, tích hợp trong nội bộ16môn học nhưng việc xây dựng một số chủ đề tích hợp và dạy học theo dự ánthì còn rất hạn chế.Ở Việt Nam, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến vấn đề tíchhợp, nhưng tiêu biểu là tích hợp trong môn Ngữ văn như: Trương Dĩnh trongcuốn“Thiết kế dạy học Ngữ văn THCS theo hướng tích hợp”, đã nêu lênnhững phương diện tích hợp trong dạy học Ngữ văn THCS; năng lực tíchhợp, kiểu văn bản tích hợp, phương pháp tích hợp; mối quan hệ giữa tích hợpvà tích cực; tích hợp và hiệu quả dạy học tích hợp; tích hợp gắn liền với đờisống xã hội và cách triển khai các bài dạy cụ thể trong chương trình THCStheo định hướng tích hợp…Người rất tâm huyết với vấn đề đọc hiểu và vấn đề tích hợp là sentayho.com.vnễn Thanh Hùng. Trong bài “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn” đăng trêntạp chí “Nghiên cứu giáo dục” (số 6, tháng 3 năm 2006), tác giả đã chỉ ra bảnchất của tích hợp là “Phương hướng phối hợp (Integrate) một cách tốt nhấtcác quá trình học tập của nhiều môn học cũng như các phân môn Văn, TiếngViệt, Làm văn trong một môn Ngữ văn”. Trên cơ sở phân tích tư tưởng tíchhợp, tác giả chỉ ra ý nghĩa của tích hợp: “Tích hợp trong nhà trường sẽ giúpHS học tập thông minh, biết vận dụng sáng tạo kiến thức, kỹ năng và phươngpháp của khối lượng tri thức toàn diện, hài hoà (Harnonie), hợp lý (Algebra)trong tình huống khác nhau và mới mẻ trong cuộc sống hiện đại”.Quan tâm đến vấn đề tích hợp, TS. Đỗ Ngọc Thống, người tham giabiên soạn chương trình SGK Ngữ văn THCS cũng có nhiều đóng góp đángghi nhận. Trong cuốn “Đổi mới việc dạy và học môn Ngữ văn ở THCS” NxbGD (2002); tác giả có một hệ thống bài viết về quan điểm tích cực và việc dạyhọc Văn theo hướng tích hợp, giúp người đọc hiểu rõ “Việc lấy tên chung củacuốn sách là Ngữ văn không chỉ đơn thuần là dồn ba phân môn lại thành mộtcuốn sách theo kiểu gộp lại (Combination) mà chúng được xây dựng theo tinhthần tích hợp (Integration)”. Trong bài viết “Dạy học môn Ngữ văn theonguyên tắc tích hợp”, tác giả chỉ ra biểu hiện của tích hợp là “Trong cuốn17sách cả ba phân môn Văn, Tiếng Việt, Tập làm văn cùng dựa trên một vănbản chung để khai thác, hình thành, rèn luyện các kiến thức và kỹ năng củamỗi phân môn”. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra ưu điểm của nguyên tắc dạy họctích hợp: “Tích hợp thể hiện trong việc xây dựng cấu trúc SGK, trong quátrình tổ chức giờ dạy học, thay đổi cách soạn giáo án, cách kiểm tra đánh giáchất lượng học tập của HS”.TS. Nguyễn Văn Đường trong “Tích hợp trong dạy học Ngữ văn bậcTHCS”, (Tạp chí Giáo dục, 2002) cũng đã đề cập đến một số cơ sở lý luậnvà thực tiễn, bản chất của tích hợp và đề ra những phương hướng thực hiệntích hợp trong dạy học Ngữ văn, song mới chỉ dừng lại ở phạm vi ứng dụngcho sentayho.com.vnài ra còn có một số sách tham khảo, các bài báo, luận văn viết vềvấn đề tích hợp trong dạy học Ngữ văn của nhiều tác giả: Trần Bá Hoành,Nguyễn Khắc Phi, Vũ Thị Sơn, Phan Trọng Luận, Trần Đình Sử… Các tàiliệu trên đã đặt cơ sở lý luận cho việc dạy học theo hướng tích hợp, song đốitượng chủ yếu vẫn là THCS. Đối với cấp THPT, các tài liệu bàn về vấn đềdạy học theo hướng tích hợp còn rất ít.Tích hợp không chỉ được chú trọng nhiều trong dạy học Ngữ văn nóichung, mà những năm gần đây cũng đã bắt đầu thu hút khá nhiều học giảnghiên cứu dạy học tích hợp riêng trong phần Tiếng Việt. Nhưng do điều kiệnvà thời lượng có hạn, chúng tôi chỉ dừng lại ở việc tìm hiểu các công trìnhnghiên cứu trong phạm vi trường Đại học Giáo dục. Như trong chuyên ngànhNgữ văn của riêng trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội đã cómột số công trình nghiên cứu: Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị VânAnh – Trường Đại học giáo dục (2008 – 2010) “Dạy các biện pháp tu từ sosánh, nhân hóa, ẩn dụ, hoán dụ theo hướng tích hợp trong chương trình Ngữvăn lớp 6, lớp 7 THCS”; luận văn thạc sĩ của tác giả Lưu Quỳnh Nga Trường Đại học Giáo dục (2008 – 2010): “Dạy học Tiếng Việt lớp 10 trunghọc phổ thông theo hướng tích hợp (ban cơ bản)”; luận văn thạc sĩ của tác giả18Nguyễn Thị Hường – Trường Đại học Giáo dục (2010 – 2012): “Dạy học loạtbài thực hành kỹ năng sử dụng Tiếng Việt lớp 10 theo hướng tích hợp”…Có thể thấy rằng, tích hợp đã trở thành xu hướng chung của việc xâydựng chương trình và SGK Ngữ văn của nhiều nước trong khu vực và trên thếgiới và cũng không phải là điều hoàn toàn mới mẻ trong lịch sử xây dựngchương trình, SGK Tiếng Việt và Văn học của nước ta. Tuy nhiên, ở ViệtNam, vấn đề tích hợp trước đây chủ yếu vẫn dựa trên quan điểm lấy Văn họclàm trung tâm, mục tiêu của mỗi bài học trong SGK chủ yếu vẫn nhằm giúpHS cảm thụ các tác phẩm văn chương. Những kiến thức Tiếng Việt, Làm vănđược đề cập đến còn rời rạc, ngẫu nhiên do tính chất của văn bản xếp theotrình tự văn học sử quyết định. Trong khi đó, chúng ta thấy việc xây dựngchương trình và SGK Ngữ văn theo quan điểm tích hợp hiện nay vừa kế thừatính tích hợp đã được thể hiện trong các chương trình và SGK Ngữ văn trướcđây, đồng thời có sự đổi mới theo hướng cập nhật và tiếp cận với chươngtrình và SGK tích hợp trong khu vực và trên thế giới. Tuy nhiên, việc vậndụng quan điểm tích hợp vào dạy các bài cụ thể trong chương trình Ngữ vănnói chung và phần Tiếng Việt nói riêng vẫn còn bị bỏ ngỏ. Đa phần các tácgiả nghiên cứu mới chỉ đưa ra phương pháp dạy học tích hợp chung trong mộtnhóm bài mà chưa chỉ ra được việc triển khai dạy một bài cụ thể trongchương trình theo hướng tích hợp như thế nào. Mặt khác, các tác giả chủ yếunghiên cứu tích hợp ở các dạng bài mang tích chất luyện tập, thực hành nhiềumà chưa có công trình nghiên cứu nào chuyên sâu vào tích hợp kiến thức Ngữvới Văn ở các dạng bài hình thành, xây dựng khái niệm, kiến thức mới.Các kết quả nghiên cứu của các tác giả đi trước chính là nguồn tài liệuquý báu, có giá trị cho chúng tôi sử dụng làm luận cứ hoặc làm phương phápchứng minh luận điểm của mình để từ đó tiếp tục tìm hiểu và phát triển sâuhơn nữa các vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn của phương pháp tích hợpđược vận dụng trong dạy học môn Ngữ Văn nói chung và môn Tiếng Việt nóiriêng trong nhà trường THCS, và THPT.193. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu3.1. Mục đích nghiên cứuTriển khai nghiên cứu đề tài, chúng tôi mong muốn góp một tiếng nóitrong việc đổi mới phương pháp dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học TiếngViệt nói riêng và hướng tới giải quyết các yêu cầu sau:+ Trên cơ sở nghiên cứu lí thuyết dạy học tích hợp và tìm hiểu, đánhgiá thực trạng, xây dựng cơ sở lý luận dạy học theo quan điểm tích hợp kiếnthức Ngữ – Văn, luận văn đề xuất cách tích hợp kiến thức Ngữ với Văn vàodạy học bài Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật trong chương trình Ngữ văn lớp10, giúp GV có được những định hướng cần thiết để triển khai giờ học cóhiệu quả, đáp ứng được yêu cầu tích hợp của chương trình và SGK. Đồngthời, giúp các em HS thấy được sự liên kết chặt chẽ giữa phần Đọc văn vớiphần Tiếng Việt và Làm văn, thấy được những cảm quan, những cái nhìn sâulắng nhất về ngôn ngữ nghệ thuật được sử dụng trong các văn bản Đọc văn vàtừ đó có thể giúp các em rèn luyện kỹ năng tạo lập văn bản theo phong cáchriêng của mình, giúp HS có ý thức giữ gìn sự trong sáng của Tiếng Việt, gópphần hình thành những năng lực nghe, nói, đọc, viết và phát triển nhân cáchcho HS.+ Trên cơ sở thực nghiệm một bài dạy học Tiếng Việt cụ thể, các GVcó thể khái quát phương pháp dạy học cả phân môn Tiếng Việt trong chươngtrình Ngữ Văn THPT theo hướng tích hợp.3.2. Nhiệm vụ nghiên cứuThứ nhất: Trong phần cơ sở lý luận của đề tài sẽ tập trung nghiên cứucơ sở lý luận và thực tiễn về dạy học tích hợp trên thế giới và ở Việt Nam,dạy học tích hợp trong môn Ngữ văn nói chung và dạy học tích hợp phầnTiếng Việt lớp 10 nói riêng.Thứ hai: Dựa vào lý thuyết tích hợp, vạch ra được các yêu cầu và đềxuất cách vận dụng tích hợp kiến thức Ngữ với Văn trong dạy học bài“Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10 – tập 2).20Thứ ba: Tiến hành thực nghiệm sư phạm để khẳng định tính khả thicủa đề tài. Trên cơ sở kết quả thực nghiệm sẽ tiến hành phân tích, nhận xét,đánh giá để có những kiến nghị và giải pháp cụ thể cho hướng nghiên cứutiếp theo.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu4.1. Đối tượng nghiên cứuTổ chức dạy học bài “Phong cách ngôn ngữ nghệ thuật” Ngữ văn lớp10 – tập 2 theo hướng tích hợp kiến thức Ngữ – Văn.4.2. Phạm vi nghiên cứu- Về nội dung: nghiên cứu hoạt động dạy và học bài “Phong cách ngônngữ nghệ thuật” (Ngữ văn 10 – tập 2) theo hướng tích hợp kiến thức Ngữ Vănxem chất lượng và hứng thú học của các em thay đổi ra sao.- Về thời gian nghiên cứu: trong năm học 2014 – 2015.- Về không gian: Lớp 10A1, 10A2 trường THPT Trần Thánh Tông -Hà Nội.5. Phương pháp nghiên cứuLuận văn vận dụng linh hoạt một số phương pháp cơ bản sau:5.1. Phương pháp nghiên cứu lý thuyếtPhương pháp nghiên cứu lý thuyết được tiến hành chủ yếu khi xác địnhcơ sở lí luận cho đề tài. Để giải quyết tốt các nhiệm vụ của luận văn, cầnnghiên cứu lí thuyết về khoa học tích hợp, nghiên cứu một số lí luận về dạyhọc bộ môn, quan điểm tích hợp trong chương trình và SGK Ngữ văn 10. Dovậy, cần vận dụng kết quả nghiên cứu của nhiều ngành khoa học, nhiều lĩnhvực nghiên cứu khác nhau để có được sự phân tích đầy đủ về những cơ sởkhoa học của đề tài, trên cơ sở đó xác định yêu cầu, tiêu chí và cách thức vậndụng tích hợp vào dạy học Tiếng Việt.5.2. Phương pháp điều tra, khảo sátĐể có được bức tranh tổng thể về thực trạng của việc sử dụng biệnpháp tích hợp vào dạy học phần Tiếng Việt lớp 10 nói chung, dạy bài Phong21