- Alanine Aminotransferase (ALT), tên gọi khác serum glutamic-pyruvic transaminase (SGPT); và Aspartate Aminotransferase (AST), tên gọi khác serum-glutamic oxaloacetic transaminase (SGOT), thuộc nhóm enzyme transaminase (tên gọi khác amino-transferase). Transaminase là enzyme (men) nội bào có chức năng xúc tác và chuyển hóa nhóm amin (-NH2) của amino acid thành chất có phức hợp carbonyl (>C=O), thường gặp nhất là dạng keto-acid (RCOCOOH). Transaminase có trong tế bào của nhiều cơ quan tổ chức khác nhau, trong đó ALT có ở tế bào gan là chính, ngoài ra có thể gặp ở thận và tế bào cơ vân. AST có ở tế bào gan, tế bào cơ vân, cơ tim, hồng cầu, tụy, phổi và não.
Chính vì vậy, ngoài bệnh lý gan, ALT và AST có thể tăng cao trong một số bệnh lý khác ngoài gan, so với AST thì ALT đặc hiệu hơn trong bệnh lý gan. Do ALT và AST là các enzyme trong tế bào, vì vậy khi tế bào gan hay các tế bào của các cơ quan có chứa enzyme này bị viêm, bị hủy hoại thì nồng độ ALT và AST trong máu sẽ tăng cao. ALT có thời gian bán hủy khoảng 47h, AST có thời gian bán hủy ngắn hơn, khoảng 17h.
Chú ý:
Chỉ số nồng độ bình thường ALT, AST trong máu hiện nay đang áp dụng chỉ đại diện cho 95% quần thể cộng đồng. Điều này có nghĩa có 5% người trong cộng đồng không có tổn thương bệnh lý nhưng nồng độ ALT và AST có thể cao hơn hoặc thấp hơn mức bình thường. Đồng thời ngưỡng giá trị bình thường của ALT, AST còn phụ thuộc vào lứa tuổi, giới tính, chủng tộc và chỉ số khối cơ thể BMI (Body Mass Index).
- Phosphatase kiềm (AP: Alkaline Phosphatase) thuộc nhóm enzyme tham gia chuyển hóa kẽm, được đánh giá là chất chỉ điểm của tình trạng tổn thương gan có ứ mật (trong gan, ngoài gan). Tại gan, phosphatase kiềm được tìm thấy ở các vi-ti mật quản và xoang mạch gan trong đơn vị cấu trúc cơ bản gan. Ngoài ra, phosphatase kiềm còn có ở xương, thận, ruột và rau thai. Thời gian bán hủy của phosphatase kiềm khoảng 7 ngày. Tuy nhiên người già trên 60 tuổi, đặc biệt nữ giới, nồng phosphatase kiềm thường cao hơn mức bình thường. Những người có nhóm máu O hoặc B, sau bữa ăn có nhiều chất béo nồng độ phosphatase kiềm cũng tăng cao hơn mức bình thường do lượng enzyme từ ruột thấm vào trong máu.
- γ-GT (GGT: Gamma Glutamin Transpeptidase, Gamma GT) thuộc nhóm phức hợp cấu trúc glyco-protein màng, có chức năng xúc tác và chuyển hóa nhóm Gamma Glutamyl thành các chuỗi peptide, amino acid và nước. Chính vì vậy, so với nhiều enzyme khác, γ-GT có độ nhạy rất cao, ngay cả khi tế bào mới bị tổn thương nhưng chưa bị hủy hoại thì nồng độ γ-GT trong máu đã có sự biến đổi. Điều này giúp lý giải trong thực hành lâm sàng, rất nhiều trường hợp ALT và AST bình thường nhưng nồng độ γ-GT trong máu tăng cao và khoảng dao động nồng độ γ-GT rất lớn. γ-GT có thời gian bán hủy khoảng 20 ngày. γ-GT có ở gan bao gồm cả ở mạng lưới nội bào của tế bào nội mô đường mật, thận, tụy, ruột và tuyến tiền liệt. γ-GT cũng có giá trị đánh giá tổn thương ứ mật, nhưng không đặc hiệu bằng phosphatase kiềm.
Gan là cơ quan đảm nhận nhiều nhiệm vụ quan trọng trong cơ thể, trong đó có nhiệm vụ chuyển hóa các chất. Chính vì vậy, gan có rất nhiều các loại men (enzym) khác nhau để xúc tác các phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Tăng men gan xảy ra khi tế bào gan bị tổn thương, đặc biệt là tăng các men transaminase trong máu là hiện tượng gián tiếp cho biết đang có quá trình viêm và hoại tử tế bào gan. Ngoài ra, các loại men khác như γ-glutamyl transferase (γGT) và phosphatase kiềm lại liên quan đến tình trạng bất thường về bài tiết ở gan.
- Các transaminase là các enzym nội bào, thường tăng khi có thương tổn tế bào gan, bao gồm: alanin aminotransferase (ALT hoặc GPT) và aspartate aminotransferase (AST hay GOT). Các enzym này có nhiều trong gan và cơ. ALT có chủ yếu trong gan. Tăng nồng độ ALAT trong huyết tương là dấu hiệu của tổn thương tế bào gan. Vì vậy, sự tăng ALT đặc hiệu hơn cho tổn thương ở gan. AST không chỉ có trong gan mà còn có cả trong cơ tim, cơ vân, thận, não, tụy, phổi, bạch cầu và hồng cầu. Do vậy, sự tăng của AST không đặc hiệu cho gan vì còn có thể do bất thường ở các nơi khác.
- γ-GT là enzym được tổng hợp bởi tế bào gan và tế bào biểu mô ống mật. γ-GT là chất chỉ thị cho tình trạng gan ứ mật nhưng kém đặc hiệu và có thể tăng cao trong các trường hợp như đái tháo đường, ứ mật, bệnh lý tuỵ, nghiện rượu, nhồi máu cơ tim, suy thận, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) và do dùng một số loại thuốc.
- Phosphatase kiềm là enzym có trong gan, ruột, xương, thận, nhau thai. Tương tự γGT, đây là một dấu hiệu của tình trạng ứ mật.