Điều chỉnh PaCO2 trên bệnh nhân thở máy | Vinmec

3.2 Thể tích khí lưu thông thấp

Bên cạnh tần số thở, thể tích khí lưu thông cũng là thông số để điều chỉnh khi cài đặt máy thở. Đây chính là lượng khí đi vào và đi ra khỏi lồng ngực người bệnh trong mỗi nhịp thở để thực hiện trao đổi khí. Đối với chế độ thở máy kiểm soát bằng thể tích, máy thở sẽ đều đặn cung cấp một lượng khí với thể tích theo cài đặt sẵn từ trước bất kể áp suất tạo ra. Đối với chế độ thở máy kiểm soát bằng áp lực, lượng khí do máy thở cung cấp sẽ tuân theo một áp lực mục tiêu đặt trước tạo ra trên đường dẫn khí. Trong trường hợp thể tích khí lưu thông thấp vì bất kì nguyên nhân nào, người bệnh có ít dưỡng khí đến phổi, lượng CO2 tạo ra sẽ tăng lên và cuối cùng được nhận biết qua là tăng PaCO2 trong máu.

Theo đó, điều tiên quyết cần làm là điều chỉnh tăng thể tích khí trong chế độ thở máy kiểm soát bằng thể tích hay tăng áp lực đường thở trong chế độ thở máy kiểm soát bằng áp lực. Tuy nhiên, sự tăng các thông số này cần phải phù hợp với bệnh cảnh hay thể trạng người bệnh. Nếu tăng quá mức thể tích hay áp lực trong lồng ngực có thể gây ra những tổn thương, sang chấn tại cơ quan hô hấp.



Đối với chế độ máy hỗ trợ, khi bác sĩ nhận thấy thể tích khí lưu thông thấp, nguyên nhân cần nghĩ đến là do khả năng tự thở của người bệnh còn yếu, do hệ hô hấp chưa phục hồi. Như vậy, bác sĩ cần điều chỉnh tăng hỗ trợ của máy. Tuy nhiên, cần xem xét lại các lý do khác cũng có thể làm giảm thể tích khí lưu thông như có sự rò rỉ khí trên đường dẫn, có tắc nghẽn do ứ đọng đàm nhớt, chèn ép, gập ống thở…

3.3 Tăng “khoảng chết”

Khái niệm “khoảng chết” trên bệnh nhân thở máy là những khoảng không gian chứa khí lưu thông nhưng không đóng góp trong việc trao đổi khí. Đây là những thể tích khí vô ích, gây tốn kém trong thể tích khí lưu thông của mỗi nhịp thở nhưng không đem lại lợi ích hô hấp cho người bệnh.

“Khoảng chết” là không thể tránh khỏi trong các bệnh lý có tổn thương cấu trúc tại phổi như giãn phế quản, thuyên tắc phổi… Mặt khác, khoảng chết cũng có thể hiện diện do cách thức cài đặt của máy như dùng PEEP cao, có các auto-PEEP (bẫy khí). Ngoài ra, bản thân hệ thống dây nối, ống dẫn, màng lọc hay các dụng cụ đặt trên đường thở với các công dụng khác nhau từ máy thở đến phổi bệnh nhân cũng góp phần tạo ra “khoảng chết” cơ học.

Chính vì vậy, khi nhận thấy chỉ số PaCO2 trong khí máu động mạch của người bệnh tăng lên, bác sĩ lâm sàng cần kiểm tra liệu có các “khoảng chết” chưa được quản lý hay không. Nếu có, cần cố gắng giảm thiểu số lượng “khoảng chết” ở mức chấp nhận được để tăng cường hiệu quả hô hấp cho người bệnh.

3.4 Hệ số hô hấp tăng

Hệ số hô hấp (K) được định nghĩa là số phân tử CO2 tạo ra khi sử dụng 1 phân tử O2. Nói cách khác, hệ số hô hấp cho thấy tính hiệu quả của công hô hấp; nếu hệ số hô hấp càng thấp, công hô hấp càng hiệu quả và ngược lại, nếu hệ số hô hấp tăng thì công hô hấp trở nên lãng phí, làm tăng thán khí CO2.

Hệ số hô hấp cũng có liên quan với chế độ dinh dưỡng. Đối với người bình thường, khi thực hiện được chế độ dinh dưỡng cân đối với ba chất cơ bản là protein, glucose và lipid, hệ số hô hấp thường tương đương 0,863. Điều này có nghĩa khi 1 phân tử O2 vào cơ thể được sử dụng, chuyển hóa các chất tạo năng lượng thì sẽ thải ra 0,863 phân tử CO2. Trái lại, nếu vì lý do bất kỳ, trên người bệnh được nuôi ăn hoàn toàn chỉ bằng carbohydrate thông qua việc truyền dịch Glucose 5, 10%, hệ số hô hấp sẽ tăng lên 1. Hệ quả của điều này sẽ được nhận biết thông qua tăng PaCO2 trong khí máu động mạch.

Như vậy, vấn đề dinh dưỡng cũng đóng vai trò quan trọng trong việc hô hấp hiệu quả ở bệnh nhân thở máy. Những bệnh nhân này thường có bệnh cảnh nặng, cần chăm sóc tích cực tại các khoa hồi sức và việc nuôi ăn phải thực hiện qua ống thông mũi dạ dày. Theo đó, chế độ nuôi ăn cần cân bằng các chất qua các cữ súp sữa trong ngày nhằm đạt được hệ số hô hấp ở mức sinh lý. Hơn nữa, điều này cũng giúp các cơ hô hấp đảm bảo năng lượng, có thể đảm nhiệm lại chức năng khi thực hiện cai máy thở về sau này.